SEARCH
THAM LUẬN
10/26/2005 7:25:21 AM  

Nhân Bầu Cử Tổng Thống Ba Lan: Điều Gì cho Việt Nam (?)

Trong ngày 24 tháng 10 năm 2005, hầu hết các tờ báo lớn tại Mỹ, Anh, Đức, Pháp, Nga, Tây Ban Nha, Italy… đều đăng tải kết quả bầu cử và bình luận về tân tổng thống Ba Lan Lech Kaczynski.

Lech Kaczynski là ai? Điều gì cho Việt Nam?

Ba Lan, nơi có người thợ điện Lech Walesa “làm chập mạch” để tiếp sau đó toàn bộ hệ thống cộng sản bị phá sản. Từ đó đến nay đã hơn 15 năm.

Rất nhiều ý kiến, trong đó nhiều khi xuất phát từ bộ máy tuyên truyền của Hà Nội, rằng Việt Nam và Ba Lan khác biệt nhau về kinh tế, văn hoá, chủng tộc v.v nên không thể đem áp dụng các hình thức chuyển đổi chế độ của Ba Lan cho Việt Nam.

Những ý kiến này mang nội dung khác nhau, từ phía này hay phía kia, thoạt nghe có vẻ hợp lý, nhưng theo tôi, hoặc, một phía là sự bao biện có chủ đích để che dấu lo ngại mất quyền lực của Đảng cộng sản Việt Nam trước một “diễn biến hoà bình”, từ kinh nghiệm của Công Đoàn Đoàn Kết Ba Lan, có thể sẽ xảy ra tại Việt Nam; một bên khác là ý thức chủ quan (hay bảo thủ) dẫn đến quan tâm chưa đầy đủ, nên nhận định không đúng mức về tác dụng của cuộc chuyển hoá chế độ tại Ba Lan đối với Việt Nam. Các tổ chức chính trị người Việt thường chỉ tập trung quảng bá những chính sách hay đường lối hoạt động riêng rẽ của mình.

Muốn gì thì chúng ta cũng không thể phủ nhận: chủ nghĩa cộng sản tồn tại suốt gần một thế kỷ và bây giờ vẫn còn lại ở vài nước lẻ tẻ, trong đó có Việt Nam, cho đến nay, chỉ có và duy nhất Ba Lan (tiếp theo mới tới các nước Đông Âu khác) chứ không phải ở bất kỳ một nơi nào, đã thành công trong cuộc cách mạng lật đổ nó và đang xây dựng, hoàn thiện một xã hội dân sự, một nhà nước “của dân, do dân và vì dân” (1).

Do đó, dù với hoàn cảnh địa lý, văn hoá và những truyền thống khác nhau, những bài học trong cuộc tranh đấu xoá bỏ chủ nghĩa cộng sản và thể chế độc tài toàn trị của Ba Lan luôn luôn nên được chúng ta nghiên cứu, hợp lý hoá cho hoàn cảnh đất nước và con người Việt Nam.

Chúng ta đã làm được rất nhiều việc trong 30 năm qua, nhưng thiếu hẳn một phương pháp tổng quát rút ra từ một nghiên cứu có tính hệ thống và nghiêm túc các kinh nghiệm của Ba Lan trên nhiều mặt trận khác nhau: vận động quần chúng, phát triển truyền thông bí mật và chuyển tải thông tin, phương thức hoạt động của các cá nhân và tổ chức đối lập tại Việt Nam, cách thức xây dựng hậu thuẫn cho các lực lượng dân chủ và đồng bào trong nước của cộng đồng người Việt ở nước ngoài thông qua cuộc vận động hỗ trợ, cung cấp tài chính, kiến nghị và đòi hỏi sự giúp đỡ của chính phủ các nước dân chủ, các tổ chức quốc tế …v.v.

Những vấn đề này thuộc trách nhiệm trước hết của các nhà chính trị, các nhà tranh đấu dân chủ và những trí thức thuộc lãnh vực nghiên cứu xã hội-chính trị.

Tổng biên tập nhật báo Ba Lan Gazeta Wyborcza (trước đây là một người trong ban lãnh đạo đầu não của Công Đoàn Đoàn Kết) có lần đã viết: “Mọi cuộc cách mạng đều từ trên xuống”. Ý ông muốn nói, tầng lớp ưu tú – elite tạo ra lý thuyết, phương pháp cách mạng trước, sau đó mới phát động quần chúng. Ông còn nói thêm: “Các cuộc cách mạng thường bắt đầu từ một nhúm người”.

Trong khi các cơ sở và tổ chức dân chủ trong nước còn khá manh nha và phải đối phó với muôn vàn khó khăn trước bộ máy đàn áp khổng lồ, tàn bạo của an ninh, thì chưa một tổ chức chính trị nào của người Việt tại nước ngoài có sức thuyết phục và chiếm được lòng tin của đại đa số người Việt, trong và cả ngoài Việt Nam. Chưa nói tới thực lực và ảnh hưởng.

Cộng đồng người Ba Lan trên thế giới hình thành từ Thế chiến lần thứ nhất và tiếp tục vững mạnh, đông đảo thêm sau Thế chiến lần thứ 2. Riêng người Ba Lan và người Mỹ gốc Ba Lan tại Mỹ xấp xỉ 10 triệu. Họ thực sự là một lực lượng có sức mạnh hùng hậu trong việc vận động Mỹ và phương Tây ủng hộ Công Đoàn Đoàn Kết. Nhiều nhà trí thức và hoạt động xã hội hồi đó đã ăn chực nằm chờ suốt ngày, nhiều năm tại Washington, Paris, Bon, Geneve…, tìm mọi cơ hội, gõ mọi cửa, chỉ để gặp các nghị sĩ, chính khách đưa kiến nghị, thức tỉnh và báo động lương tri nhân loại rằng có một Ba Lan đang quằn quại trước xe tăng và nhà tù cộng sản, cần được giúp đỡ. Tiền bạc để in ấn truyền đơn, báo bí mật của Công Đoàn Đoàn Kết được họ chuyển về Ba Lan bằng tiền mặt theo nhiều con đường khác nhau. Cộng đồng người Ba Lan đã đóng một vai trò cực kỳ quan trọng trong toàn bộ sinh hoạt chính trị của Ba Lan bấy giờ.

Khi Ba Lan có dân chủ, họ lại tiếp tục vận động xoá nợ do chính quyền cộng sản để lại, đẩy nhanh quá trình Ba Lan gia nhập Hiệp ước Quân sự Bắc Đại Tây Dương - NATO (làm lá chắn, ngăn chặn đe doạ an ninh từ phía Nga) và Liên Hiệp Âu châu - EU để hội nhập phát triển kinh tế cùng với cộng đồng các quốc gia dân chủ.

Người Ba Lan ở nước ngoài đã cùng nhân dân Ba Lan trong nước làm nên những kỳ tích trong việc lật đổ chế độ cộng sản và xây dựng dân chủ, nhưng họ không có nhiều tổ chức, đảng phái chính trị (nếu không nói là rất ít ỏi) như người Việt ở nước ngoài. Trong tất cả các cuộc bầu cử tự do, từ suốt 15 năm nay, tôi chưa thấy một đảng phái nào của người Ba Lan ở nước ngoài tham gia tranh cử. Kể cả một nội các của chính phủ hợp hiến lưu vong (tại London sau khi Đức Quốc xã tấn công năm 1939) cũng từ nhiệm, bàn giao lại toàn bộ di sản cho tổng thống dân cử mới Lech Walesa sau kỳ bầu cử đầu tiên. Về cá nhân chỉ xảy ra một trường hợp duy nhất: nhà triệu phú Tyminski. Vào năm 1990, mang quốc tịch một nước Nam Mỹ nhưng vẫn còn quốc tịch Ba Lan, Tyminski ứng cử và lọt vào vòng hai trong cuộc đua giành ghế tổng thống với Lech Walesa trước sự ngạc nhiên của dư luận. Mặc dù Tyminski vung tiền vận động, mua chuộc cử tri, người Ba Lan cuối cùng chọn Lech Walesa. Báo chí Ba Lan bấy giờ, chỉ 2 tuần từ vòng một đến vòng hai đã làm một cuộc mổ xẻ Tyminski không khoan nhượng. Các thu nhập mờ ám được phanh phui. Tyminski bị văng khỏi võ đài với kết quả buồn thảm.

Liệu những dữ kiện trên có là bài học quý giá cho những cá nhân và đảng phái người Việt đang hoạt động với mục đích đầu cơ chính trị và tham vọng chấp chính trong chính quyền Việt Nam tương lai khi có bầu cử tự do?

Trong kỳ bầu cử quốc hội Ba Lan vào tháng 9/2005 vừa qua, đảng PiS (tiếng Ba Lan: Prawo i Sprawiedliwosc- tạm dịch: Luật pháp và Công Lý) của hai anh em song sinh - Jaroslaw và Lech Kaczynski, do Jaroslaw làm chủ tịch đảng, gìành được nhiều phiếu nhất (gần 1/3) để đứng ra thành lập chính phủ cùng với đảng PO (tiếng Ba Lan: Plaforma Obywatelska- tạm dịch: Mặt trận Nhân Dân), có tỷ lệ phiếu thứ nhì. Cánh hữu chiếm đại đa số ghế trong quốc hội Ba Lan. Trong khi đó, từ hơn 40% số ghế của nhiệm kỳ quốc hội gần đây nhất, những người cựu cộng sản thất bại cay đắng, chỉ còn hơn 10%.

Chưa hết. Nắm được cương vị chủ tịch thành phố thủ đô Warszawa thông qua một cuộc bỏ phiếu trực tiếp của dân thủ đô từ năm 2001, và chỉ một tháng sau, sau khi giành thắng lợi trong cuộc bầu cử quốc hội vừa nêu trên, Lech Karczynski đã vượt qua đối thủ Donald Tusk (PO – cũng có cội nguồn với Công Đoàn Đoàn Kết) với tỷ lệ 54,04 / 45,96, để trở thành Tổng thống Cộng Hoà Ba Lan từ ngày 24/10/2005, theo kết quả chính thức do Hội đồng Bầu cử Ba Lan công bố.

Cần nhấn mạnh rằng, anh em Kaczynski là những nhà hoạt động hàng đầu của Công Đoàn Đoàn Kết Ba Lan. Sau khi chế độ cộng sản bị lật đổ (1989), họ thành lập đảng PC, (tiếng Ba Lan là : Porozumienie Centrum, tạm dịch: Trung tâm Thoả thuận), tham gia trong liên minh cầm quyền cánh hữu (mà hạt nhân là Công Đoàn Đoàn Kết). Do bất đồng về chính sách, tổ chức nhân sự và nhiều khi từ cả những xung đột rất cá nhân, chính phủ này bị phân hoá và chia rẽ sâu sắc. Thành quả của Công Đoàn Đoàn Kết tưởng như bị đổ vỡ không cứu vãn nổi trước tình cảnh mất tín nhiệm xã hội nghiêm trọng. Và vì thế, 1994, lực lượng cánh tả (mà thực chất là của những người cộng sản Ba Lan cũ đã lột xác, từ bỏ ý thức hệ cộng sản chuyển qua thành các nhà hoạt động dân chủ - xã hội, thất thủ qua kỳ bầu cử đầu tiên) lên nắm chính quyền (cùng đảng Nông Dân - PSL), sau thời gian chỉ vài năm kiên trì phát triển đảng.

Đảng PC của hai anh em Kaczynski lúc bấy giờ không thoát khỏi tình thế suy thoái chung, nhiều người ra đi và gia nhập các đảng phái khác. Khuôn mặt của hai người hầu như vắng bóng trên sân khấu chính trị.

Năm 1997, lực lượng Công Đoàn Đoàn Kết (bao gồm nhiều đảng cánh hữu) trở lại nắm chính quyền sau một chiến dịch to lớn phát động trên toàn quốc mang tên AWS (lấy các chữ đầu từ tiếng Ba Lan: Akcja Wyborcza Solidarnosci, tạm dịch: Chiến dịch Bầu cử Đoàn Kết). Tuy nhiên, vì không chiếm được đa số ghế tuyệt đối trong quốc hội, AWS phải liên minh, cũng với đảng Nông Dân - PSL, một đảng tương đối ôn hoà, từ thời cộng sản, có chương trình kinh tế xã hội không phải lúc nào cũng đồng thuận với AWS.

AWS lại dẫm lên lối mòn của cách đấy 4 năm: tranh chấp địa vị, ngôi thứ giữa các đảng phái, lợi dụng chức quyền móc ngoặc trong các áp-phe, gây phe cánh, ăn chia trong các chương trình tư hữu hoá. Chưa kể vì nằm trong liên minh với đảng PSL, xung đột trong sắp xếp nhân sự quan trọng thường xuyên xảy ra. PSL ra khỏi liên minh. Trong tình thế không còn lùi được nữa, AWS vời giáo sư Buzek từ Katowice, một tỉnh công nghiệp mỏ lớn của Ba Lan, một khuôn mặt trí thức và có uy tín đạo đức đứng ra thành lập chính phủ thiểu số.

Bối cảnh của sân chơi chính trị Ba Lan nhìn ra có vẻ lộn xộn, thậm chí có người cho là bát nháo. Trước bê bối của các đảng cánh hữu, người dân Ba Lan chán nản. Năm 2001, những người cựu cộng sản một lần nữa lại lên nắm chính quyền với đa số phiếu.

Hà Nội đã khai thác triệt để diễn biến chính trị, kinh tế Ba Lan cho việc tuyên truyền vì “sự ổn định chính trị” nên phải duy trì sự lãnh đạo độc quyền của đảng cộng sản Việt Nam. Hãy nhìn Ba Lan! Những suy diễn như “đa đảng là loạn”, “để Việt Nam tiếp tục đang phát triển kinh tế, không cần thiết phải thay đổi thể chế chính trị”, “rốt cuộc thì những người cộng sản vẫn nắm chính quyền” …v.v. được nói đến thường xuyên trên báo Đảng. Người ta còn cho rằng có lẽ người Ba Lan giống người Việt, khi đất nước có nguy cơ thì sát cánh đoàn kết chiến đấu, khi có hoà bình thì tranh giành, xâu xé nhau địa vị, quyền lợi. Chỉ có đảng cộng sản mới quy tụ được sự đoàn kết. Các đảng phái không cộng sản của Ba Lan chửi nhau như hát hay, chẳng khác gì của người Việt tại Mỹ. Chiến thắng hoà bình khó hơn chiến thắng chiến tranh…v.v.

Thực ra, Hà Nội cố tình không nhắc tới khía cạnh tích cực: trật tự xã hội, an ninh quốc phòng và phát triển kinh tế của Ba Lan song hành nhịp nhàng và ổn định bên cạnh các biến động chính trị xảy ra thường xuyên. Phải nói đây là một ưu việt tuyệt đối chỉ có trong một xã hội dân chủ, pháp trị.

Báo chí truyền thông tự do của Ba Lan đã không buông tha bất kỳ một quan chức nào, chính phủ nào, đảng phái nào trước các ý đồ và hành động phi dân chủ, làm thiệt hại đến tài sản, quyền lợi của xã hội và công dân. Các đảng phái tìm mọi cách loại bỏ nhau nhưng trong khuôn khổ của pháp luật và hành xử văn minh trên các phương tiện truyền thông đại chúng. Mọi sự vu khống, xúc phạm hay bôi nhọ cá nhân đều phải chịu phán xử của cơ quan tư pháp.

Trong những năm đầu xây dựng nền móng dân chủ còn sơ khai và phải vượt qua tâm lý xã hội từ chế độ bao cấp và phân phối, nhất là ý thức công dân bị nền giáo dục xã hội chủ nghĩa nhồi nhét gần nửa thế kỷ, ngành lập pháp (quốc hội), hành pháp (chính phủ) và tư pháp (Công tố viện – Toà án) Ba Lan đã chứng minh rõ ràng tính hơn hẳn, khách quan, bình đẳng trước pháp luật của một thể chế dân chủ, pháp trị so với thể chế công an trị của đảng cộng sản trước đây.

Trở lại việc bầu cử tổng thống Ba Lan.

Giai đoạn 1998 -1999, trước sự chia rẽ trong nội các và nguy cơ quốc hội có thể bị giải tán, lực lượng cánh hữu như đã trình bày ở trên thành lập chính phủ thiểu số với thủ tướng là giáo sư Buzek.

Ông Lech Kaczynski được mời làm bộ trưởng tư pháp. Với cuộc sống khá giản dị (cho đến nay ông và vợ vẫn ở tại một căn hộ hơn 100 mét vuông tại thủ đô Warszawa) và chưa hề bị dính vào các vụ bê bối nào về kinh tế, tham nhũng, ông L. Kaczynski đã thẳng tay trong sạch hoá bộ máy cảnh sát, công tố viện và toà án. Ông đã trực tiếp xử lý nhiều vụ tham nhũng liên quan đến các dân biểu, các tỉnh trưởng, thậm chí các quan chức lãnh đạo đương quyền. Ngành tư pháp Ba Lan có thể xem như khá độc lập (các chánh án và thẩm phán không được sinh hoạt trong các đảng phái) và không bị các đảng cầm quyền chi phối, nên quyền hạn của Bộ trưởng tư pháp rất lớn.

Thông qua những việc làm cụ thể, uy tín với dân chúng của L. Kaczynski lên cao. Chớp thời cơ, hai anh em Jaroslaw va Lech kaczynski, chuyển đảng PC trước đây của mình thành một đảng mới với tên PiS – Luật Pháp và Công Lý.

Căn bệnh thâm căn cố đế của những người cựu cộng sản Ba Lan là tự mãn, tự phụ, “ngủ quên trên chiến thắng” khi nắm được quyền lực hiện lại nguyên hình sau cuộc bầu cử năm 2001. Họ có tất cả trong tay: Quốc hội và Tổng thống (vốn trước đây cũng là một bộ trưởng trong chính quyền cộng sản và là người sáng lập đảng Liên minh Cánh tả cầm quyền - một chuyển thể của đảng cộng sản Ba Lan) đã dẫn đến tình trạng lạm quyền, lôi bè, kéo cánh và dính vào hàng loạt các xi-căng-đan lớn nhất của Cộng Hoà Ba Lan III. Rất nhiều các viên chức cao cấp ra đi, kể cả tổng trưởng cảnh sát, các tỉnh trưởng, rồi bộ trưởng, thủ tướng cũng khăn gói chia tay, thậm chí phải ra điều trần trước Uỷ ban điều tra của quốc hội.

Trong bối cảnh ấy, năm 2001, lần đầu tiên trong lịch sử, như đã trình bày, Ba Lan thực hiện việc dân bầu trực tiếp chức vụ chủ tịch thành phố thủ đô Warszawa. Lech Kaczynski ra ứng cử. Người dân vẫn còn nhớ đến “bàn tay sắt” của ông lúc đương quyền dưới thời thủ tướng Buzek. Ông giành thắng lợi ngay từ vòng một.

Tôi muốn nói với các nhà chính trị rằng, vào thời điểm 2001, đảng PiS mới có vọn vẹn hơn 400 đảng viên trên toàn Ba Lan. Chiến lược “tinh” hơn “đông”, “chất” hơn “lượng” của ông Kaczynski trong việc xây dựng và phát triển đảng quả thực khôn ngoan. Để chỉ trong vòng 4 năm, đảng của ông do người em song sinh làm chủ tịch chiếm được nhiều ghế nhất tại quốc hội trong cuộc bầu cử vào ngày 15/09/2005 vừa qua, còn ông trở thành tổng thống thứ 3 của Ba Lan sau 15 năm chế độ cộng sản bị triệt thoái tại Ba Lan, với bao nhiêu biến động và hơn một tá thủ tướng ra đi không kèn không trống, trong đó có ông L. Miller đầy tham vọng và quyền uy, chủ tịch đảng Liên Minh Cánh tả Ba Lan cầm quyền, nguyên cựu bí thư đảng cộng sản Ba Lan.

Tôi xin được nhắc lại một lần nữa: không ít kinh nghiệm và bài học từ Ba Lan có thể vận dụng (nhưng linh hoạt và với đầu óc thực tế) vào cuộc tranh đấu dành tự do, dân chủ và xây dựng dân chủ sau này cho Việt Nam, nhất là đối với các nhà chính trị chuyên nghiệp và các tổ chức, đảng phái có tham vọng cầm quyền.

Từ thực tiễn Ba Lan, chúng ta thấy cuộc tranh dành quyền lực ở thể chế nào cũng khắc nghiệt và phũ phàng. Ở thể chế nào, nếu không có pháp luật nghiêm minh, cơ hội lạm quyền và tham nhũng vẫn luôn luôn xảy ra. Chỉ khác một điều. Ở chế độ cộng sản Việt Nam hiện nay, các thế lực lãnh đạo chóp bu cấu kết với nhau theo mô hình của tổ chức của mafia, hạ bệ nhau để giành ảnh hưởng, khống chế, từ đó chiếm đoạt, chia chác nhiều hơn các đặc lợi cho phe cánh của mình. Đây là một tập đoàn dối trá, phản động, phản lại lợi ích của nhân dân vì họ tự cho mình độc quyền cai trị dân, đứng ngoài vòng pháp luật, không một lực lượng nào có quyền phản kháng, trong khi đó thì rêu rao là chính quyền đại diện cho dân và vì hạnh phúc của nhân dân!

Ngược lại, trong chế độ dân chủ, các đảng phái tranh giành quyền lực lãnh đạo bằng cuộc vận động nhân dân thông qua các chương trình hành động, kể cả những chương trình sặc mùi mị dân hay quá khích, bài ngoại, dân tộc chủ nghĩa ...v.v. Nhưng ai được làm lãnh đạo là phụ thuộc hoàn toàn vào số phiếu bầu của người dân. Và kể cả khi nắm được chính quyền, không có gì đảm bảo để một hay vài đảng có thể yên vị dài dài như đảng cộng sản Việt Nam. Các vị lãnh đạo có thể mất chức, vào tù, quốc hội bị giải tán, nếu họ lợi dụng quyền lực thao túng và làm hại đất nước.

Và ở bất kỳ thể chế nào, báo chí tự do là điều tối cần thiết để làm chức năng giám sát kẻ cầm quyền. “Báo chí phải được nói tất cả để không cho một số người tự do làm được tất cả”- (Louis Terrenoir). Trong khi đó, đảng cộng sản Việt Nam kiểm soát và khuynh loát toàn bộ báo chí và các cơ quan truyền thông.

Viết bài này, tôi không có ý định ca ngợi thành quả của đảng PiS và anh em song sinh Kaczynski, thậm chí người tôi mong trúng cử là ông Donald Tusk. Một số chính sách của ông tân tổng thống Kaczynski như quay lại mức án tử hình, không thừa nhận việc hợp thức hoá “vợ chồng” đồng giới tính, xem xét lại bồi thường hậu quả chiến tranh thế chiến II của Đức với Ba Lan (một vấn đề vô cùng nhạy cảm), quan điểm phải giải quyết dứt khoát và thoả đáng những vấn đề thuộc phạm trù tội ác mà cộng sản Xô Viết gây ra cho Ba Lan, bảo vệ quyền lợi Ba Lan quyết liệt trong các cuộc thương lượng khó khăn giữa các thành viên EU, v.v. đang đặt nhiều dấu hỏi và nghi vấn của các nhà lãnh đạo các nước Âu châu.

Tuy nhiên việc ông tuyên bố Hoa Kỳ là đồng minh chiến lược và chọn Mỹ là nước đến thăm đầu tiên vào năm mới sau khi nhậm chức chính thức, cùng với việc ông nói rằng, quan hệ láng giềng với Nga và Đức được coi trọng đặc biệt. Ông cũng ngỏ ý mời tổng thống Nga V. Putin đến thăm Ba Lan ngay trong những ngày đầu của nhiệm kỳ tổng thống. Từ đó cho thấy, dù chính phủ, hay tổng thống nào, người Ba Lan vẫn luôn nhất quán một đường lối đối ngoại trong suốt thời kỳ hậu cộng sản.

Họ sáng suốt đặt quyền lợi kinh tế và an ninh của dân tộc, qua kinh nghiệm của lịch sử, lên trên quyền lợi của đảng mình.

Người Việt Nam bao giờ mới được ý thức được như người Ba Lan?

Lưu Vũ
Ngày 24/10/2005.
-------------------------
(1): Câu nói của tổng thống Hoa Kỳ Thomas Jefferson: "...Government by the people of the people to the people..."- Chính quyền của dân, do dân, vì dân. Ý này cũng được các nhà lãnh đạo đảng CSVN copy trong các phát biểu của mình.