SEARCH
SỨC KHỎE
4/8/2009 5:21:22 PM  

Tự Chuyện:

TÔI TỰ CHỮA LÀNH BỆNH UNG THƯ
Bác sĩ Anthony Sattilaro
 
            (Bác sĩ Giám Ðốc của một bệnh viện lớn tự chữa lành bệnh ung thư một cách kỳ diệu bằng phương pháp Thực Dưỡng OHSAWA). Bài này đã đăng trên: Tạp Chí Life (Hoa Kỳ) tháng 8-1982. (trang 62, 63, 66, 68, 70). Tạp chí Paris Match (Pháp) tháng 10-1982 (trang 17, 19, 24, 26, 29, 34, 37, 39 và 42). Tạp chí Atarashiki Sekate (Nhật) tháng 10- (trang 10).
 
            Lời toà soạn: Nhận thấy sự ích lợi của nội dung bài viết. Báo Ðẹp đăng lại để phổ biến giúp độc giả, nhưng không có nghĩa là khuyến khích quý vị phải làm theo những gì tác giả tự chuyện này đã làm, và không chịu trách nhiệm cách này hay cách khác về nội dung của câu chuyện kể. (TKV)
 
 ****
 
            Ðối với bác sĩ trưởng một bệnh viện, không gì đáng ngạc nhiên và khó chịu bằng hay tin rằng mình đã mắc bệnh ung thư, không còn sống được bao lâu nữa. Các cộng sự của ông còn kinh ngạc hơn nhiều khi biết rằng vị giám đốc của họ đã áp dụng "Phương Pháp Thực Dưỡng Ohsawa", tự chữa lành bệnh mà không cần họ giúp đỡ.
 
            Cuộc mạo hiểm này là của Bác sĩ Anthony Sattilaro, Giám Ðốc một bệnh viện lớn ở Philadelphia (Hoa Kỳ). Ông đã kể cho chúng tôi nghe câu chuyện này với vẻ chân tình và không có ý đem mình ra làm gương.
            Tuy thế, một hội nghị gồm 8,000 bác sĩ chuyên về bệnh ung thư vừa nhóm tại Seattle (Hoa Kỳ) đã phải công nhận tầm quan trọng của sự ăn uống trong việc chữa trị và phòng ngừa bệnh ung thư.
 
Bác Sĩ Sattilaro sắp bị giải phẩu.
Ông vẫn chưa biết mình đã bị ung thư
            Như thông lệ từ hai năm nay, sáng ngày 23 tháng 5, năm 1978 khi tôi thức dậy thì nghe lưng đau ầm ỉ. Nuốt xong hai viên thuốc an thần để làm dịu bớt cơn đau, tôi cạo râu, thay quần áo và dắt xe đạp vào thang máy của chung cư tôi đang ở, cạnh công trường Rittenhouse. Gần đây tôi có thói quen đạp xe đến Union League ăn sáng rồi đi làm luôn.
            Sáng hôm đó, đường sá quá đông người. Vừa đến một ngã tư, bất ngờ có người băng qua trước mặt tôi. Tôi lách càng xe cố tránh thì đâm vào một ổ gà trên đường, ngã xuống. Tay tôi và hông bị xóc mạnh.
            Tôi đứng dậy phủi bụi và gỡ mấy viên nhựa đường còn dính ở lòng bàn tay. Dịch hoàn (hòn dái) bên phải đau tức dữ dội, nhưng tôi cố đạp xe đến nơi làm việc.
            Khi đến bệnh viện, lưng và háng vẫn còn đau. Tôi liên lạc ngay với phòng quang tuyến. Vài ngày sau tôi cho rọi kiếng, thử gan và máu rồi trở lại văn phòng làm việc.
            Tôi mới nhận chức giám đốc bệnh viện Methodist sáu tháng nay, còn trước tôi làm trưởng khoa ngành chụp thuốc mê suốt mười ba năm trời. Ngày hôm đó, tôi phải lo đối đầu với cuộc sát hạch đầu tiên đúng nghĩa của nó: Bộ Y Tế Pennsylvania mở cuộc thanh tra nha sở, các phòng ban và nhân viên. Tôi đang lo lắng về cuộc thanh tra này hơn là viêc khám nghiệm cơ thể của tôi thì chuông điện thoại reo lên. Bác sĩ Anthony Renzi, trưởng khoa quang tuyến, đang đợi tôi ở đầu giây. Ông hỏi:
            - Tony, anh thấy trong người ra sao?
            - Khoẻ lắm. Có chuyện gì vậy?
            - Này, tôi xem hình rọi thấy ngực anh không được bình thường. Anh nên ghé qua tôi một chút.
            Khi tôi đến, Renzi đặt phim lên máy rọi, tôi thấy nơi sườn phải có một vết lớn. Trong lúc cùng Renzi thảo luận về mấy tấm phim thì tôi cảm thấy phổi bên phải như khác lạ. Hơi thở như nghẽn lại, miệng khô ra. Tôi rán dằn ý muốn nới lỏng cà vạt ra. Sau khi đã xem hết các phim quang tuyến, Renzi bàn với tôi nên cho khám xương ngay. Tôi đồng ý.
            Một giờ sau, tôi trở lại phòng quang tuyến. Renzi và viên phụ tá tiêm vào máu tôi một chất thuốc nhuộm. Tôi phải đợi suốt 3 tiếng đồng hồ cho chất thuốc thấm khắp cơ thể. Sau đó họ treo phía trên tôi một cái máy trông giống như công tơ Geiger dùng theo dõi phản ứng của thuốc nhuộm.
            Trong trường hợp một người bị bệnh ung thư thì chất thuốc này sẽ tụ lại những nơi có tế bào ung thư. Khi máy rà xương chĩa vào chỗ cơ thể có nhuộm tụ lại thì kêu lên dồn dã ồn ào. Nếu không có ung thư thì thuốc lan đều khắp cơ thể và máy chỉ phát ra tiếng tích tắc nhẹ nhàng đều đặn.
            Tôi nằm dài trên chiếc bàn hẹp bên dưới cái máy, người gần như trần truồng chỉ mặc có chiếc áo bệnh viện. Tôi cảm thấy lạnh và sốt ruột. Người run cầm cập như đang nằm trên một khối nước đá. Tôi ngước mắt nhìn cái máy. Ðầu cảm ứng của máy hình thù như một cái trống nhỏ được nối liền với một máy điện toán (computer) dùng để phân tích dữ kiện. Một bộ phận giao động (oscilloscope monitor), gắn bên trong máy điện toán sẽ cung cấp hình rọi của bệnh nhận. U ung thư sẽ hiện lên màn ảnh của bộ phận giao động dưới hình thức những vết đen. Nếu người khoẻ mạnh, máy sẽ chiếu một hình người trông rõ. Tôi thầm khấn nguyện Trời Ðất. Ngay trước khi Renzi cho máy chạy, tự trấn an, tôi thầm nhủ với mình rằng: đã là bác sĩ thì không bao giờ có bệnh.
            Renzi bật cần mở máy. Như một con vật khổng lồ đột nhiên tỉnh giấc, máy bắt đầu phát ra những tiếng tích tắc chẩm rãi như đang thu lấy những phần tử phóng xạ trong không khí. Ðầu cảm ứng hình cái trống nhỏ được treo ngay trên đầu tôi. Bỗng nhiên tiếng tích tắc êm dịu chẩm rãi và rời rạc đó biến thành những âm thanh cuồng loạn như tiếng súng liên thanh. Tim tôi đập mạnh, da sởn ốc và căng ra vì adrenalin đột nhiên được phóng thích và thân nhiệt bốc cao. Tôi liếc nhìn màn ảnh và sợ hải khi thấy cái gì như là vết đen ở ngay đỉnh đầu. Renzi đưa máy xuống vai phải của tôi, tiếng kêu lặng đi trong chốc lát rồi lại vang lên thật man rợ. Nơi xương ức, lưng, sườn phải của tôi cũng đều như thế. Tôi co rúm người lại như thể bị sốc nhưng những âm thanh đó vẫn tiếp tục xoáy sâu vào người tôi. Dường như chúng phát ra từ chính giữa não tôi, và chính đây là tiếng kêu của các tế bào ung thư báo cho biết sự hiện diện của chúng.
            Tôi ngồi dậy bước xuống bàn và cảm thấy buồn nôn. Nhưng dạ dày của tôi vẫn nén được trong lúc Renzi cùng tôi xem lại kết quả. Theo máy rà thì tôi có những vết ung thư ở sọ, ở xương sườn số 6 bên phải, vai phải, xương ức và ở lưng.
            Sau đó Renzi đến tìm tôi tại văn phòng và tìm cách an ủi tôi. Bộ tịch của ông ta không được tự nhiên, dường như ông ta muốn thở mạnh mà không thở được. Ông nói với tôi:
            - Tony này, thật tình mà nói thì chúng ta cũng chưa kết luận được gì qua buổi khám xương này. Hy vọng máy rà đã phản ứng theo một hoạt động còn lành của mô xương. Chúng ta chưa thể quyết chắc được trước khi giải phẩu. Xin anh đừng suy luận vẩn vơ trước khi biết rõ sự việc. Ðồng ý không Tony?
            - Ðồng ý. Tôi lẩm bẩm nói và mơ hồ nghe tiếng mình lẫn lộn trong mớ âm thanh của máy còn vang vọng trong đầu tôi.
            Sáng hôm sau, tôi đem tất cả kết quả thử nghiệm đến cho vị bác sĩ riêng, bác sĩ Sheldon Lisker. Là một bác sĩ nội khoa và ung thư, một chuyên viên chẩn đoán và trị liệu u bướu, bác sĩ Lisker vừa là bác sĩ riêng vừa là bạn thân của tôi từ cuối năm 1960. Ông khám người tôi và chú trọng đến hòn dái sưng bên phải lúc bấy giờ đang cứng một cách khác thường. Ông nói với tôi là những thử nghiệm máu cho thấy mức phosphatase lên rất cao, chứng tỏ có khả năng bị ung thư gan; gan cũng hoạt động không bình thường, cũng có những dấu hiệu mà ông đã thấy trong lần thử gan cho tôi vào dịp hè năm ngoái. Rồi ông cầm những tấm phim của máy rà đặt vào máy rọi. Ông nói:
            - Anh Tony này, sau khi xem kỹ tất cả, tôi đành phải cho anh biết là tôi ngờ anh đang bị ung thư ở hòn dái và nhiếp hộ tuyến. Nguy hiểm là ung thư phân tán nhiều nơi trong cơ thể như mấy tấm phim cho thấy. Tôi khuyên anh nên cho cắt bỏ hòn dái và mổ nhiếp hộ tuyến ngay.
            Bác sĩ Lisker và tôi còn bàn bạc thêm về các dữ kiện. Có hai điều trong bệnh tình của tôi xem ra có vẻ mâu thuẩn với mô hình cổ điển của bệnh ung thư dịch hoàn và nhiếp hộ tuyến. Ung thư dịch hoàn thường không lan qua xương. Trong khi quang tuyến lại cho thấy có vết u ở xương. Còn ung thư nhiếp hộ tuyến thường không có ở những người da trắng cỡ tuổi tôi, tôi mới 46 tuổi. Người da trắng ít khi bị ung thư nhiếp hộ tuyến trước tuổi 50. Nếu có những người dưới 50 thì khác với trường hợp của tôi và nguy hiểm hơn nhiều so với bệnh ở những người cao tuổi, nó thường giết nạn nhân trong vòng 2, 3 năm sau khi phát hiện.
            Lisker cố an ủi tôi, nhưng cả hai chúng tôi đều biết rằng dầu chịu giải phẩu đi nữa, tôi cũng không thể ăn mừng lễ thọ ngũ tuần của tôi.
            Phòng mạch của Sheldon Lisker ở gần nhà tôi. Từ giả ông, tôi thả bộ về công trường Rittenhouse. Hôm đó là ngày đầu tháng 6, trời mùa xuân nắng ấm. Ghế đá công viên đầy những người ngồi ăn trưa dưới bóng cây. Một làn gió nhẹ lào xào lướt qua mấy tàng lá. Tôi thầm nghĩ rõ là một ngày lý tưởng để căng bườm lướt gió.
            Ở góc đường, một nghệ sĩ đang trưng bày các tác phẩm. Tôi dừng lại xem tranh và chú ý đến bức tranh dầu vẽ hai người đang chơi quần vợt, trong lòng muốn mua, tôi sắp hỏi hoạ sĩ giá cả thì một ý nghĩ mà tôi cố gắng xua đuổi ra khỏi tâm trí một cách vô vọng chợt đến với tôi: "Mày sắp chết đến nơi, mua sắm mà làm gì?". Tôi vội quay gót đi thẳng về nhà.
            Chiều hôm đó, tôi gọi điện thoại đến bác sĩ John Prehatny, trưởng khoa giải phẩu thuộc bệnh viện của tôi để nhờ mổ dịch hoàn và nhiếp hộ tuyến. Tôi đành cho cắt bỏ hòn dái. John và tôi thoả thuận cho thực hiện cuộc mổ xẻ vào thứ Ba tới. Sau đó tôi lo thu xếp để ngày thứ Hai vào nằm bệnh viện Methodist như là những bệnh nhân khác.
            Vào cuối tuần, tôi lái xe về nhà nghỉ Hè của tôi ở Long Beach Island, N.J. để nghỉ ngơi và ghé thăm cha mẹ tôi sống gần đó. Thật là trớ trêu, cha tôi đang chết lần mòn vì bệnh ung thư từ sáu tháng nay, nên tôi không dám cho mẹ tôi biết là tôi cũng đang mang bệnh ung thư. Lẽ ra tôi phải nói rõ với bà là tôi sắp đi nằm bệnh viện thì tôi chỉ báo là tôi sẽ đi công tác trong 2, 3 tuần, và khi về sẽ gọi điện thoại cho bà hay.
            Tuần sau đó, tôi được chính nhân viên trong bệnh viện của tôi giải phẩu: hòn dái bên phải cùng các u bạch huyết nằm bên háng phải đều bị cắt bỏ, nhiếp hộ tuyến cũng được mổ xuyên qua ruột. Khi đem phân tích, nhiếp hộ tuyến cũng bị ung thư. Bước tiếp theo đã quá rõ ràng. Xương sườn số 6 bên phải rồi đây cũng cần cắt bỏ nếu ung thư đã ăn lan ra những nơi được máy ra chỉ định. Chỉ còn một cách duy nhất để biết là mổ xương sườn ra khám nghiệm.
            Ngày 13 tháng 6, tức là sau lễ sinh nhật thứ 47 của tôi một ngày, xương sườn bị mổ ra xem, trên mặt xương có một cục u to bằng quả mận (mơ). Xương sườn có cục u, được gởi đến phòng xét nhiệm nghiên cứu. Nếu cục u là u "lành" (tức là vết sưng thường, phân biệt với u "ác tính" là u ung thư), thì hy vọng máy rà đã phản ứng theo hoạt động còn lành của mô xương, và ung thư nhiếp hộ tuyến có thể được chữa khỏi bằng cách giải phẩu. Kết quả của phòng xét nghiệm quyết định điều đó.
            Một tuần sau, bác sĩ Frehatny, người đã mổ xẻ cho tôi, đến thăm tôi tại phòng bệnh. Ông ngồi xuống ở cạnh giường và trước khi nói ông nhìn thẳng vào tôi, có lẽ để tôi có thì giờ nhận ra những điểm bất thường trên mặt ông. John nói: "Anh Tony, thật đáng buồn khi phải cho anh hay điều này. Xương sườn đã bị ung thư!"
            Cuộc giải phẩu đã xác nhận những điều chẩn đoán: ung thư nhiếp hộ tuyến vào thời kỳ IV (D). Tôi biết rằng tôi chỉ còn sống được từ 18 tháng đến 3 năm nữa thôi.
            - Tuyệt vọng quá John ơi! Tôi vừa nói vừa ứa nước mắt.
            Prehatny im lặng một lát rồi nói thêm:
            - Tôi đã bàn với bác sĩ Lisker, ông ta cũng đồng ý là phải cắt bỏ hòn dái bên kia.
            Sáng hôm sau, tôi lại lên phòng mổ lần thứ ba chỉ trong ba tuần. Lần giải phẩu này - gọi theo danh từ chuyên môn là giải phẩu dịch hoàn (orchiectomy) - mất khoảng một tiếng đồng hồ. Tôi trở về phòng lúc 11 giờ.
            Ðến gần trưa, ảnh hưởng của thuốc mê mới hết. Nằm dài trên giường, tôi suy nghĩ miên man. Tôi không còn hoàn toàn nữa, nhân phẩm đã bị giảm sút. Tôi sẽ ra sao? Số phận đó tôi thừa biết. Tôi bật lên khóc nức nở. Từng mảng lớn của cuộc sống đã trôi đi. Trong cơn xúc động bực tức tôi la lên : "Không. Trời ơi! Không..."