THAM LUẬN VỀ TẾT NGUYÊN ĐÁN
ĐỐI CHIẾU ÂM, DƯƠNG LỊCH &
TÌM HIỂU ĐÔI ĐIỀU VỀ LỊCH SỬ VIỆT NAM
Trần Trọng Khoái
Cảnh đẹp người vui, mừng Tết đến;
Hoa tươi pháo nổ, đón Xuân về.
Thời gian "vô thủy vô chung", nếu không phân định bởi một giai đoạn nào đó, làm sao nhớ được những kỷ niệm quan trọng hay chuyện vui buồn đã xảy ra. Vì vậy mà từ thời Tam Hoàng (Hạ - Thương - Châu) ở Á Đông đã nghĩ cách dùng chu kỳ mặt trăng xoay quanh địa cầu chế tác ra âm lịch, mỗi năm 355 ngày, trong khi ở Tây Phương lại dùng thời gian địa cầu chuyển động quanh thái dương hệ giáp một vòng là 365 ngày 1/4, tác tạo ra dương lịch. Do dựa trên khoa học không gian nên âm lịch 3 năm có thêm 1 tháng nhuận, thế là Đông hay Tây, âm lịch hay dương lịch vẫn có điểm tương đồng, tỷ như tiết Đông Chí thường có trước lễ Christmas 3 hay 4 ngày thôi.
- Đông Chí năm Tân Tỵ, Nhâm Ngọ, Quý Mùi (2001, 2002, 2003) đều nhằm ngày 22 tháng 12 dương lịch.
- Đông Chí năm Giáp Thân (2004) vào ngày 10 tháng 11 âm lịch, nhằm ngày 21 tháng 12 dương lịch.
- Đông Chí năm Ất Dậu, Bính Tuất, Đinh Hợi (2005, 2006, 2007) lại nhằm ngày 22 tháng 12 dương lịch.
- Đông Chí năm Mậu Tý (2008) vào ngày 24 tháng 11 âm lịch, nhằm ngày 21 tháng 12 dương lịch.
Tết Nguyên Đán là tiết mở đầu của năm âm lịch có 12 tháng, tháng thiếu thì 29 ngày, tháng đủ là 30 ngày đúng vào mùa Xuân, nên có thành ngữ :"Xuân về Tết đến". Chúng tôi xin thêm cặp đối mừng Xuân :
XUÂN VỀ CẢNH TRÍ PHONG QUANG, THẾ NHÂN HOAN HỶ / TẾT ĐẾN THƯƠNG TRƯỜNG NHỘN NHỊP, VẠN VẬT HỒI SINH.

Nguồn gốc Tết Nguyên Đán có nhiều giai thoại chưa xác định được như :
- Đời nhà Hạ vui Xuân đón Tết vào đầu tháng Dần.
- Đời nhà Thương ăn Tết vào đầu tháng Sửu.
- Đời nhà Châu (năm 1050 trước Tây lịch) chọn tháng Tý làm tháng đầu năm.
- Vào thời Đông Châu, đức Khổng Phu Tử, bậc Vạn Thế Sư Biểu san định thi thư, lại xếp tiết lễ Nguyên Đán vào đầu tháng Dần theo quan niệm Á Đông "Thiên sanh ư Tý, Địa sanh ư Sửu, Nhân sanh tại Dần".
- Đời Tần Thủy Hoàng (năm 221-206 trước Tây lịch), cải cách nhiều việc nội trị, ngoại giao khá kỳ lạ nên bị nhân dân bất mãn, chống đối, thế là phát sinh việc thu hết sách để thiêu hủy; chôn hơn 460 văn thi sĩ và nho sinh để thị uy, xây Vạn Lý Trường Thành để ngăn chặn đối phương xâm nhập, rồi chọn ngày đầu tháng Hợi để tổ chức Tết Nguyên Đán.
- Đến đời Hán Vũ Đế (năm 140 trước Tây lịch), lại chọn ngày đầu tháng Dần làm ngày đầu năm âm lịch và kế tục cho đến ngày nay được 2,150 năm, nên đã thành truyền thống vĩnh viễn.

Dân ta chuẩn bị mừng Tết Nguyên Đán từ nhiều tháng cuối năm trước, như ươm bón, chăm sóc hoa quả; ngành truyền thông báo chí dự liệu ấn hành giai phẩm Xuân; bách công kỹ nghệ và thương gia lo đầy đủ sản phẩm cung ứng cho nhu cầu của thị trường. Mọi người sẵn sàng từ tinh thần đến vật chất, như gửi thiệp mừng xã giao, thư chúc Tết những người thân, nhân dân chỉnh trang phần mộ Gia Tiên, nên tháng cuối năm quen gọi là tháng Chạp; các cơ sở thờ tự và nhà cửa đều tươm tất ... Đến ngày 25 tháng Chạp ăn lễ Tất Niên là thời điểm chuyển tiếp giữa năm cũ và năm mới, nên đâu đâu cũng thấy rộn rịp tưng bừng. Thời xưa, các cơ quan hành chánh được nghỉ từ ngày Tất Niên, ấn dấu cất giữ vào nơi trang trọng và được khai ấn để bắt đầu công việc vào ngày tốt đầu năm. Ngày nay, các đoàn thể, quý đồng hương thường quy tụ đón Tết mừng Xuân vào tuần cuối năm cũ, hay tuần đầu năm mới với ý nghĩa "tiễn cựu nghênh tân" với : Long lân uyển chuyển, hoa pháo tưng bừng; hàn huyên thân mật, vui vẻ chào mừng.
Cuối năm là ngày "Dựng Nêu", ổn định mọi việc để tâm hồn thanh thoát hướng về tâm linh. Chùa, Đình, Giáo Đường, Thánh Thất, Tư Gia ... đèn hương tỏa rạng để cáo yết, cung nghênh các đấng thiêng liêng, tông tổ hồi vị, chung hưởng cái Tết của thế nhân. Đêm cuối năm còn gọi là "Trừ Tịch" với hậu ý chấm dứt mọi việc chưa thành tựu viên mãn trong quá khứ, để đón chào niềm vui vẻ tốt lành cho ngày mai.
Xin nêu ra vài cặp đối để chư độc giả hồi tưởng về nếp sinh hoạt ngày Tết ở thôn trang mình thưở trước và tâm nguyện của đồng hương hải ngoại chúng ta hiện nay :
THỊT MỠ DƯA HÀNH, CÂU ĐỐI ĐỎ ;
NÊU CAO TRÀNG PHÁO, BÁNH CHƯNG XANH.
(Trần Tế Xương)
hay :
LỊCH KỶ SỬU QUA ĐI, XẢ TRỪ LẮM CHUYỆN CHƯA ĐẸP Ý VỪA LÒNG, MONG HÀI HÒA TRONG CUỘC SỐNG;
XUÂN CANH DẦN ĐẾN RỒI, TĂNG TRƯỞNG NHỮNG ĐIỀU KHÁ TỐT ĐỜI LỢI ĐẠO, ĐỂ PHÁT TRIỂN NẾP NHÂN SINH.
Đúng giờ Tý khởi đầu ngày Mồng Một tháng Giêng âm lịch, hương thơm đèn rạng, pháo nổ chuông ngân đón mừng Năm Mới, gọi là giờ Giao Thừa, do nhân gian quan niệm mỗi năm có vị Hành Khiến Thừa Thiên Mệnh quản lý thế nhân, đến cuối năm là hoàn thành nhiệm vụ để bàn giao chức trách cho vị Hành Khiến Tân Niên, như lễ bàn giao nhiệm vụ hành chánh tối cao ngoài đời. Giờ Giao Thừa có ý nghĩa như vậy, hay Tết Nguyên Đán là tiết lễ đầu tiên của năm âm lịch. Những danh từ Minh Niên, Tân Niên, Tân Xuân ... cũng đồng nghĩa, nhưng được thay đổi nhau để khỏi trùng lặp trong cách nói.
Đặc biệt là Tết Nguyên Đán có ba ngày, trịnh trọng nhất trong các tiết lễ suốt năm âm lịch. Hai ngày đầu, người ta phân định công việc lễ bái các nơi tôn nghiêm, viếng thăm những thân tộc, ân nhân, sư trưởng, bằng hữu ... nên phát sinh câu nói cho dễ nhớ : Mồng Một tết cha, Mồng Hai tết mẹ, Mồng Ba tết thầy. Hôm Mồng Ba còn gọi là ngày tạ tiết lễ xong xuôi tốt lành, thế nhưng việc du Xuân, ăn chơi, giải trí, dư hương về ngày Tết kéo dài đến ngày Mồng Bảy tháng Giêng âm lịch khi làm lễ Hạ Nêu, để mọi người bắt tay vào việc sinh hoạt thường nhật hăng say linh động trong năm mới.
Biết năm dương lịch, ta có thể tính ra năm âm lịch trước và sau Tây lịch kỷ nguyên.
Từ những bài viết về Tết Nguyên Đán, hay tham khảo cách làm lịch đăng trong tuyển tập Luận cổ suy kim của chúng tôi, xuất bản tại Saigon năm 2007, chúng tôi đã nghĩ ra cách tính năm âm lịch khi biết năm dương lịch. Mặc dù trong lịch Trung Hoa có bản kê sự diễn tiến về 200 năm thời cận đại, hay trong lịch vạn niên cũng đã hướng dẫn cách tìm về năm âm lịch, nhưng bất ngờ khi phải tính mà không có tài liệu trong tay cũng đành chịu. Do vậy chúng tôi đã tìm ra cách tính nhanh theo lối :
Sắp số từ 01 đến 10 theo thứ tự 10 thiên can : Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý và từ 01 đến 12 theo thứ tự 12 địa chi : Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi.
- Tìm thiên can : Lấy năm dương lịch trừ đi 3, số đơn vị của hiệu số sẽ thích ứng với thiên can. Tỷ như :
Năm 2008 - 3 = 2005 = Số 5 tương ứng với Mậu
Năm 2009 - 3 = 2006 = Số 6 tương ứng với Kỷ
Năm 2010 - 3= 2007 =Số 7 tương ứng với Canh
- Tìm địa chi : Lấy năm dương lịch trừ đi 3 rồi chia cho 12, số dư tìm được sẽ thích ứng với địa chi. Tỷ như:
Năm (2008-3): 12 = Số dư là 1, tương ứng với Tý
Năm (2009-3): 12 = Số dư là 2, tương ứng với Sửu.
Năm (2010-3): 12 = Số dư là 3, tương ứng Dần
Suy ra : Năm 2008 tương ứng với năm Mậu Tý
Năm 2009 tương ứng với năm Kỷ Sửu
Năm 2010 tương ứng với năm Canh Dần
1. Kiểm chứng về tiền bán thế kỷ thứ I được nêu tiếp trong bài, ta thấy Hai Bà Trưng khởi nghĩa chống Tô Định mong đền nợ nước trả thù chồng, lập nền tự chủ cho nước nhà lần đầu tiên năm 40 sau Tây lịch kỷ nguyên là năm :
Can: 40 - 3, hàng đơn vị của hiệu số là 7, tương ứng với Canh
Chi: (40 - 3) : 12, có số dư là 1, tương ứng với Tý
Vậy năm 40 là năm Canh Tý.
Có cặp đối ghi công đức Hai Bà Trưng :
THAY QUYỀN TƯỚNG QUÂN PHẤT CỜ KHỞI NGHĨA, HÀNH VI CHÁNH CHÁNH ĐƯỜNG ƯỜNG ;
CỞI ÁCH NGOẠI XÂM DỰNG NƯỚC LÊN NGÔI, SỰ NGHIỆP OANH OANH LIỆT LIỆT !
2. Luận về lịch sử nước nhà, ta thấy trước khi Nguyễn Ánh thống nhất quốc gia lập ra triều Nguyễn đóng đô ở Phú Xuân, Huế đương thời ở Đàng Trong có 9 vị Chúa :
Chúa Nguyễn Hoàng đầu tiên, từ năm 1558 đến năm 1613.
Chúa thứ 9 là Nguyễn Phúc Thuần, từ năm 1765 đến năm 1777. Chúa bị nhà Tây Sơn đánh đuổi ở Gia Định rồi mất năm 1777 (Đinh Dậu).
Lúc bấy giờ Nguyễn Ánh đánh chiếm nhiều nơi, lắm phen thành bại, nhờ gặp duyên may, dựng nên triều Nguyễn từ năm 1802, lên ngôi hoàng đế hiệu Gia Long, kế thế thêm 12 vua, trị vì 143 năm. Cuối cùng là vua Bảo Đại, thoái vị năm 1945.
Khởi đầu triều Nguyễn năm 1802 là năm Nhâm Tuất được tính như sau :
Can: 1802 - 3, hàng đơn vị của hiệu số là 9, tương ứng với Nhâm.
Chi: (1802 - 3) : 12, có số dư là 11, tương ứng với Tuất
Trích 4 câu đầu bài ca trong Quốc Văn Giáo Khoa Thư mừng Hưng Quốc Khánh Niệm của triều Nguyễn :
Ngày 2 tháng 5 năm Nhâm Tuất,
Ghi nhớ ngày thống nhất Nam Bang.
Rượu sen dâng chuốc chén vàng,
Gọi là kỷ niệm Cao Hoàng năm xưa.
Năm 1945, chấm dứt thời quân chủ ở nước ta là năm Ất Dậu theo cách trình bày sau đây :
Can: 1945 - 3, hàng đơn vị của hiệu số là 2, tương ứng với Ất
Chi: (1945 - 3) : 12, có số dư là 10, tương ứng với Dậu
3. Thử xét về bản thân, nếu độc giả nào sinh năm 1930, sẽ tính ra tuổi âm lịch như sau :
Can: 1930 - 3, hàng đơn vị của hiệu số là 7, tương ứng với Canh
Chi: (1930 - 3) : 12, có số dư là 7, tương ứng với Ngọ
4. Trường hợp có em hay con quý vị sanh năm 1975 là năm chúng ta đành bỏ nước mà đi, thì năm đó là :
Can: 1975 - 3, hàng đơn vị của hiệu số là 2, tương ứng với Ất.
Chi: (1975 - 3) : 12, có số dư là 4, tương ứng với Mão
Năm 1975 là năm Ất Mão.
Xét về các niên độ sau Tây lịch kỷ nguyên rất cần thiết vì ai cũng hay gặp và phải giải quyết thường xuyên, nhưng có độc giả hỏi sao không thấy cách tìm ra năm âm lịch trước Tây lịch kỷ nguyên? Chúng tôi suy tư khá lâu nhưng chưa tìm được cách tính nhanh chóng tiện lợi. Dù thời gian quá xa xưa không cần thiết lắm, nhưng có vị nêu ra điều hữu lý, nên phải tìm cách đáp ứng cho xong bằng lối suy luận sau đây để quý thân hữu nhàn lãm lúc Xuân về, hoặc xin thỉnh ý cao minh của chư Độc Giả hoan hỷ nhuận chính. Thật vạn hạnh lắm thay !
Do âm lịch có 10 thiên can và 12 địa chi nên đầu mỗi thập kỷ có thiên can giống nhau nhưng địa chi thì lùi lại (nhỏ bớt) 2 nếu tính ngược về trước để thêm 2 năm mới tròn một chu giáp, và ngược lại (lớn thêm) 2, nếu tiếp theo sau.
Ví dụ : Ngược về trước
Năm 40 trước Tây lịch kỷ nguyên là Tân Tỵ
Năm 30 trước Tây lịch kỷ nguyên là Tân Mão
Năm 20 trước Tây lịch kỷ nguyên là Tân Sửu
Năm 10 trước Tây lịch kỷ nguyên là Tân Hợi
Năm 01 Tây lịch kỷ nguyên là Tân Dậu
Tiếp theo sau
Năm 11 sau Tây lịch kỷ nguyên là Tân Mùi
Năm 21 sau Tây lịch kỷ nguyên là Tân Tỵ
Năm 31 sau Tây lịch kỷ nguyên là Tân Mão
Năm 41 sau Tây lịch kỷ nguyên là Tân Sửu, cũng là năm viên kiện tướng Mã Viện nhận lệnh Hán Quang Võ xua quân sang phục thù Trưng Nữ Vương.
Do bản kê trên, ta thấy :
- Năm đầu Tây lịch kỷ nguyên là Tân Dậu
- Năm thứ 10 trước Tây lịch kỷ nguyên lùi lại 2 là Tân Hợi
- Năm thứ 60 trước Tây lịch kỷ nguyên lùi dần và đúng 1 chu giáp là Tân Dậu
- Năm đầu Tây lịch kỷ nguyên là Tân Dậu
- Năm thứ 11 sau Tây lịch kỷ nguyên lớn thêm 2 là Tân Mùi
- Năm thứ 60 sau Tây lịch kỷ nguyên lớn thêm dần và đúng 1 chu giáp là Tân Dậu.
Như vậy, nếu xét nước ta bị Triệu Vũ Đế tức Triệu Đà chủ quản nước Nam Việt (Trung Quốc) xua quân đánh An Dương Vương nhiều lần song thường bị đẩy lui. Sau Triệu Đà dùng kế kết thân, cho con trai là Trọng Thủy sánh duyên với Mỵ Châu và ở rể rất tương đắc. Mọi bí ẩn của Âu Lạc, Trọng Thủy đều biết để thông báo về Triệu Vũ Đế nắm vững. Chuyện kể Trọng Thủy đánh tráo chiếc nỏ thần, để chuyển bảo vật thiêng liêng về cho phụ vương, cũng trong kế hoạch tìm hiểu để phá vỡ việc bí mật quốc gia rất khôn ngoan và quỷ quyệt của đối phương tự thuở xa xưa của nhân loại! An Dương Vương mất cảnh giác nên bị Triệu Đà bất ngờ đánh bại để thôn tính nước Âu Lạc từ năm 179 trước Tây lịch kỷ nguyên! Thế là nước ta bị nạn Bắc thuộc mãi đến năm 905 sau Tây lịch kỷ nguyên do Khúc Thừa Dụ dấy nghiệp, xây nền tảng cho thời kỳ độc lập và tự chủ của quốc gia.
Thời kỳ Bắc thuộc từ năm 179 trước Tây lịch kỷ nguyên cho đến năm 905 sau Tây lịch kỷ nguyên là 1,084 năm, nhưng chúng ta quen gọi 1,000 năm Bắc thuộc khởi đầu từ đó. Bởi lẽ thời gian trên có nhiều cuộc khởi nghĩa chống cường quyền, giành độc lập cho quốc gia, đầu tiên là Hai Bà Trưng từ năm 40 đến năm 43, tiếp theo là Triệu Quốc Đạt và em gái là Triệu Trinh Nương lãnh đạo cuộc khởi nghĩa chống Đông Ngô nhưng không thành. Rồi Lý Nam Đế, Triệu Quang Phục, Mai Hắc Đế, Bố Cái Đại Vương ... là những bậc tài hoa, anh kiệt lần lượt phất cờ nghĩa vì nước dấn thân, vì dân trừ bạo, nhưng chưa thanh toán được nạn Bắc thuộc quá lớn mạnh đang đè nặng trên quê hương thân yêu của chúng ta !
Năm 179 cách năm đầu Tây lịch kỷ nguyên Tân Dậu chỉ 1 năm là tròn 3 chu giáp, do đó ta biết năm 179 trước Tây lịch kỷ nguyên là năm Nhâm Thân, hay Triệu Vũ Đế (Triệu Đà) mất năm 137 trước Tây lịch kỷ nguyên, ta có thể tính đương thời là năm Giáp Thìn.
- Từ năm 179 trước Tây lịch kỷ nguyên đến năm 208 sau Tây lịch kỷ nguyên là thời thuộc Nam Việt của nhà Triệu và Tây Hán.
- Từ năm 208 đến năm 220 là thời thuộc Lưỡng Hán (Tây Hán và Đông Hán của Hán Quang Võ).
- Từ năm 220 đến năm 280 là thời thuộc Ngô, nước ta được gọi là Giao Châu.
- Từ năm 280 đến năm 420 là thời thuộc Tấn, nước ta cũng gọi là Giao Châu.
- Từ năm 420 đến năm 589 là thời thuộc Nam Triều (Nam, Bắc Triều tại Trung Quốc).
- Từ năm 589 đến năm 905 là thời thuộc Tùy Đường (Năm 678, nhà Đường đổi Giao Châu thành An Nam Đô Hộ Phủ).
Ngày trước, quá bán (trên 50%) dân ta sống bằng nông, tang, lâm, ngư nghiệp trên phần lớn ruộng vườn, sông nước, rừng rẫy tại quê hương, nên Tết Nguyên Đán và mùa Xuân khá nhàn rỗi, do đó cuộc vui ngày Tết kéo dài khá lâu ; nhiều nơi mở hội hè đình đám vui nhộn qua câu : "Tháng Giêng là tháng ăn chơi".
Về tâm lý tình cảm, thế nhân thường mong muốn hạnh phúc dài lâu. Nhân dịp vui Xuân đón Tết, chúng tôi viết 4 câu chúc mừng, thêm 3 cặp đối, xin cống hiến các Đồng Hương thưởng lãm, cầu mong liệt vị và chư bảo quyến:
Thân tâm khang thái,
Phước huệ tăng long.
Quế hòe tú mậu,
Sinh hoạt hanh thông.
TRẦN TRỌNG KHOÁI